Arpril 10, 2016

 

Mối Liên Hệ Giữa Thầy Và Trò, Trò Và Thầy Trong Giáo Dục Phật Giáo

          Tất cả mọi người và mọi vật trên cõi đời này không ít thì nhiều đều có các mối tương quan và tương duyên với nhau hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp giữa người và người, giữa người và động vật, giữa người và thực vật, giữa người và môi trường thiên nhiên, v. v và v. v… Trong tất cả các mối liên hệ đó, mối liên hệ giữa người và người, đặc biệt là mối quan hệ giữa thầy và trò, trò và thầy được trình bày trong bài viết này.
          Trong chủ đề của bài viết này, ta bắt gặp từ giáo dục Phật giáo được chia thành hai từ khác nhau: Giáo dục và giáo dục Phật giáo. Những từ Pāli của “giáo dục” là “Sikkhā, Sikkhana, hoặc Sikkhāpana” bao hàm ý nghĩa giảng dạy, giáo huấn, hướng dẫn, đào tạo, nghiên cứu, học tập …, đề cập tới việc tu tập, và phát triển đạo đức và tinh thần của con người. Giáo dục đúng, có khả năng ngăn ngừa con người ra khỏi thân tâm bất tịnh, không những dạy cho con người một vài phương tiện kiếm sống, mà còn giúp con người sống đời sống tinh thần và đạo đức vững chãi.       
          Giáo dục Phật giáo có nghĩa là tránh làm các điều ác, làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch, là tiến trình tu tập, nhận diện, sửa đổi, và chuyển hóa điều sai thành điều đúng, điều bất thiện thành điều thiện, vô minh (Avijjā) thành minh (Avijjā), nhân tánh thành Phật tánh, khổ đau thành hạnh phúc, phiền não thành Bồ đề (Bodhi), v. v… Giáo dục Phật giáo nhằm đào tạo chúng ta trở thành con người chánh niệm và tĩnh giác, vững chãi và thảnh thơi, an vui và hạnh phúc như Bậc giác ngộ.
          Đối tượng của giáo dục và giáo dục Phật giáo ở đây chính là con người tỉnh thức, con người này có nhiều mối liên hệ với nhau rất gần gũi, được hiểu là thầy và trò.  
          Thực vậy, trong giáo dục Phật giáo, các mối liên hệ giữa thầy và trò, trò và thầy là những mối liên hệ đặc thù được nối kết với nhau bằng tình thầy trò, tình huynh đệ, tình pháp lữ, tình đồng tu, tình tương trợ, tương thân, tương ái, tương kính, v. v… qua việc hành trì và ứng dụng giáo pháp của đức Thế Tôn vào trong cuộc sống hằng ngày của mình một cách chánh niệm và tĩnh giác, vững chãi và thảnh thơi ngay tại thế gian này.
          Như quý vị biết thầy là người đi trước được hiểu là người hướng dẫn, dẫn đường; trò là người đi sau được hiểu là người được hướng dẫn, có khả năng đi theo con đường thiện mà thầy đã chỉ dẫn. Cả người hướng dẫn và người được hướng dẫn đều có nhiều mối liên quan với nhau rất mật thiết qua việc tu học, hành trì, ứng dụng, và nếm được hương vị an lạc của chánh pháp để đem lại an lạc và hạnh phúc cho số đông.
          Theo cái nhìn tương tức, thầy và trò, trò và thầy đều là những người kế thừa, trao truyền, và tiếp nối từ nhiều thế hệ đi trước đến các thế hệ hiện tại và các thế hệ tương lai. Thầy là người thuộc thế hệ đi trước có trách nhiệm tiếp nối những uy nghi, tế hạnh, ý nghĩ, lời nói, và việc làm chân chánh của những người thầy của thầy mình, và truyền trao lại cho những người đi sau. Trò là người thuộc thế hệ đi sau có bổn phận và trách nhiệm tiếp nối thân giáo, khẩu giáo, và ý giáo của người thầy mình, và truyền trao lại cho các thế hệ đi sau, tức đệ tử của mình.
Thầy và trò, trò và thầy vừa là người trao truyền vừa là người tiếp nối, vừa là người tiếp nối, vừa là người trao truyền, vừa là người hướng dẫn vừa là người kế thừa, vừa là người kế thừa, vừa là người hướng dẫn, song cả hai đều có khả năng học đạo, hiểu đạo, hành đạo, hoằng đạo, và hộ trì đạo pháp của đức Thế Tôn trong hiện tại cũng như trong tương lai trên khắp hành tinh này. Hiểu và thực hành được như vậy, cả thầy lẫn trò đều có khả năng đưa đạo Phật đi về tương lai một cách vững chãi và thảnh thơi qua việc thực tập và ứng dụng giáo pháp của đức Thế Tôn vào trong cuộc sống hằng ngày của mình để đem lại lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay cuộc đời này. Do vậy, các mối liên hệ giữa thầy và trò, trò và thầy là những mối liên hệ rất đặc biệt, quan trọng, thân thiện, gần gũi, và chặt chẽ.
          Chúng ta biết các mối liên hệ giữa thầy với trò, và trò với thầy được đề cập rõ trong Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) số 3 thuộc Kinh Trung Bộ I (Majjhima Nikāya) qua việc tu học và ứng dụng giáo pháp của đức Thế Tôn để đem lại tiếng tốt, uy tín, uy nghi, hòa hợp, đoàn kết, sức mạnh, vững chãi, và thảnh thơi cho tự thân, cho đoàn thể tu học, cho cộng đồng, và cho xã hội.
          Trong quá trình hoằng dương chánh pháp và phục vụ nhân sinh, trước hết, cả thầy lẫn trò phải là những người sống đời sống gương mẫu, chánh niệm và tĩnh giác thông qua việc thừa tự pháp, hơn là thừa tự tài vật. Tuy nhiên, thừa tự tài vật thích hợp, đúng người, đúng việc, đúng chỗ, và đúng lúc, cả thầy lẫn trò đều có thể đem lại lợi ích cho nhiều người bởi vì họ là những hành giả tỉnh thức nguyện sống cuộc đời tỉnh thức, cùng đi trên đường vui, tu tập giải thoát, làm an lạc cuộc đời.
          Chúng ta biết thừa tự pháp là nghĩa đen, nghĩa bóng của nó có nghĩa là cả thầy lẫn trò cùng nhau học pháp, hiểu pháp, hành pháp, hộ pháp, hoằng pháp, và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hàng ngày của mình để đem lại an lạc và lợi ích cho tự thân và cho tha nhân ngay cuộc đời này. Thừa tự pháp có nghĩa là quá trình tu tập và chuyển hóa thân tâm của thầy và trò một cách thích hợp và đúng lúc. Trong quá trình tu tập này, cả thầy và trò đều có khả năng chuyển hóa những tập khí bất thiện như tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến… thành việc thực hành, nuôi dưỡng, và phát khởi tâm bố thí, từ bi, trí huệ, khiêm nhường, tin tưởng, chánh kiến…
          Nhờ thực tập pháp thừa tự một các chuyên cần, cả thầy lẫn trò đều có khả năng đem lại hạnh phúc cho người, yên vui cho gia đình, và thanh bình cho thế giới trong ánh sáng từ bi và trí tuệ của đức Thế tôn. Thầy và trò ở đây có thể là người xuất gia, hoặc có thể là người tại gia. Cả hai hạng người này tu tập ngon lành thì có thể đem lại hòa bình và hạnh phúc đích thực cho số đông. Những ai thực tập pháp thừa tự của đức Thế Tôn một cách vững chãi và thảnh thơi, thì họ sẽ thấy rằng thân tâm của họ luôn được thanh thản, nhẹ nhàng, và thư thái trong từng hơi thở, ý nghĩ, lời nói, và việc làm chánh niệm, từ đây, an lạc và hạnh phúc có thể thấm nhuần và làm mát dịu thân tâm của hành giả.
          Mặt khác, nếu thừa tự tài vật, chúng ta chỉ có nhu cầu lợi dưỡng cho cá nhân, không có ý thức tu tập cho tự thân và cho tha nhân, thì chúng ta chắc chắn sẽ bị thế gian chê cười và chỉ trích. Việc thừa tự tài vật như vậy mang ý nghĩa tự lợi, không mang ý nghĩa tu tập cho tự thân và tha nhân. Thừa tự tài vật trong trường hợp này có nghĩa là không rộng lượng, không vị tha, và chỉ biết thụ hưởng lợi ích cho cá nhân. Tài vật ở đây được hiểu là vật chất như đồ mặt, đồ dùng, đồ ăn thức uống, thuốc men, tiền bạc…
          Tuy nhiên, nếu thừa tự tài vật do người đàn việt cúng dường, thì cả thầy lẫn trò phải có ý thức biết đủ, nương vào đó để tu tập, để nuôi dưỡng thân tâm, để hoằng dương chánh pháp và làm lợi lạc cho nhân sanh. Thừa tự tài vật trong trường hợp này mang nhiều ý nghĩa tự lợi và lợi tha. Cả thầy lẫn trò sẽ không bao giờ bị thế gian chê cười và chỉ trích.
          Người có tu có học thừa tự tài vật thích hợp để làm lợi ích đúng người, đúng việc, đúng nơi, đúng lúc, và đúng mục đích, thì họ có thể gặt hái được nhiều công đức; người không tu không học, hoặc có tu có học lai rai, thừa tự tài vật không thích hợp không làm lợi ích đúng người, đúng việc, đúng nơi, đúng lúc, và không đúng mục đích, thì họ sẽ không gặt hái được nhiều công đức, hoặc đôi lúc họ không gặt hái được công đức nào cả.
          Qua việc làm từ thiện chân chánh và thừa tự tài vật thích hợp, thì chúng ta có thể gặt hái được nhiều phước đức; phước đức có được là do quá trình chúng ta tu tập, vun trồng và tạo tác công đức như tham gia các việc từ thiện, ủng hộ sinh viên nghèo, giúp người nghèo khổ… Có phước đức, chúng ta phát triển đời sống tâm linh rất vững chãi bằng cách hành trì và ứng dụng giáo pháp của đức Thế Tôn vào trong đời sống tu tập hằng ngày của mình để đem lại an lạc và hạnh phúc cho số đông.  
          Ví dụ tiêu biểu, nếu tiền được người thí chủ cúng dường dùng để nuôi Tăng chúng tu học, và đào tạo Tăng tài, thì mình phải sử dùng đồng tiền đó lo cho việc nuôi tăng chúng mà thôi. Ngược lại, nếu mình dùng đồng tiền đó lo cho việc xây Chùa, đúc chuông, và tạo tượng, mặc dù các việc làm đó đều mang ý nghĩa là làm việc cho Tam Bảo, nhưng trong trường hợp này, các việc làm trên đều không mang ý nghĩa thích hợp vì chúng ta sử dụng đồng tiền đó không đúng người, đúng chỗ, đúng việc, và không đúng lúc.
          Tuy nhiên, có đôi lúc mình sử dụng đồng tiền của thí chủ cúng dường không thích hợp, không đúng người, và không đúng việc, chẳng hạn như, tiền thí chủ cúng dường cho việc xây Chùa, Tháp, mình sử dụng tiền đó cho việc in Kinh sách. Là hành giả, chúng ta cố gắng sửa đổi và chuyển hóa những ý nghĩ, lời nói, và việc làm không chân chánh thành những ý nghĩ, lời nói, và việc làm chân chánh để đem lại niềm tin và uy tín cho tự thân và cho đoàn thể. Do vậy, tiền cúng dường để đào tạo Tăng tài, thì mình chỉ sử dụng đồng tiền đó lo cho việc đào tạo Tăng tài. Tiền cúng dường để xây Chùa, thì mình chỉ dùng đồng tiền đó cho việc xây Chùa mà thôi…
          Trong các trường hợp đề cập ở trên, chúng ta cần phải cẩn thận và có ý thức rất rõ về việc thừa tự tài vật do người đàn việt cúng dường. Dù các việc nhỏ hay việc lớn, miễn là mình làm trong ý thức chánh niệm và tĩnh giác, mình làm việc thích hợp với chánh pháp và thọ nhận tài vật với cái tâm chân chánh, thì các việc làm đó có khả năng đem lại an lạc và hạnh phúc cho số đông. Mình có thể vun trồng và gặt hái được công đức và phước đức ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại. Khi người khác nghe và thấy việc mình làm trong chánh niệm, thì họ đều cảm thấy hoan hỷ và ủng hộ việc làm chân chánh của chúng ta. Năng lượng tu tập, kinh nghiệm sống, ánh sáng từ bi và trí huệ, an lạc và hạnh phúc trong ta có khả năng tỏa sáng đến nhiều người.
          Như vậy, thừa tự tài vật, nếu ta tiêu thụ mỗi ngày một lượng vàng cho các việc từ thiện đúng người, đúng việc, đúng chỗ, và đúng lúc, chúng ta cảm thấy an vui và an tâm, và người khác cũng cảm thấy hoan hỷ. Nếu chúng ta dùng tài vật cho việc làm từ thiện không thích hợp, không đúng người, đúng việc, đúng chỗ, và không đúng lúc, khi chúng ta tiêu thụ mỗi ngày chỉ một tí vàng, tâm ta cảm thấy không an, không vui, lòng ta cảm thấy nao nao khó chịu, và đôi lúc chúng ta lại bị thế gian chê trách. Trong trường này, người cúng được phước rất nhiều, còn chúng ta được phước rất ít. Những ai thừa tự tài vật mà không nỗ lực tu tập và chuyển hóa nội tâm, thì họ không dễ gì gặt hái được công đức và phước đức. 
          Ví dụ, người cúng, tức là người thí chủ được ví như con dao, người được cúng, tức là hành giả được ví như cục đá mài. Nếu nhận của cúng dường của người thí chủ, hành giả không lo tu tập tinh chuyên, không sống đời sống chánh niệm và tĩnh giác, dùng đồ cúng dường của người thí chủ để làm việc từ thiện không thích hợp, không đúng người, đúng việc, đúng chỗ, và không đúng lúc, thì cục đá mài của hành giả càng ngày càng mòn; điều đó có nghĩa là phước đức của hành giả càng ngày càng giảm. Ngược lại, con dao của người thí chủ cúng dường càng ngày càng bén; tức phước đức của người thí chủ càng ngày càng tăng trưởng.   
          Phước đức không có hình tướng, nhưng nó biểu hiện qua đời sống tu tập của mỗi chúng ta. Phước đức có thể thấy được qua đời sống an vui và hạnh phúc của tự viện, trong đó thầy và trò là những thức giả và hành giả xuất sĩ nguyện sống cuộc đời tỉnh thức có tình đồng tu, tình huynh đệ, có thời gian tu tập để hoằng dương chánh pháp và làm lợi lạc nhân sanh.   
          Ý thức các việc ấy rõ được như vậy, chúng ta khéo biết tu tập, sống đời sống chánh niệm và tỉnh giác, biết sử dụng vật chất cúng dường của người đàn việt để làm việc từ thiện thích hợp, thì niềm tin và uy tín của ta tăng trưởng. Khi nghe những việc ta làm chân chánh, mọi người ai nấy đều hoan hỷ phát tâm và ủng hộ cho ta cả vật chất lẫn tinh thần. Hiểu và thực tập được như vậy, thì thầy và trò cùng người đàn việt đều cảm thấy vui trong lòng. Từ đây, an lạc và hạnh phúc có khả năng thấm nhuần và mát dịu thân tâm qua việc hành trì và ứng dụng những lời Phật dạy vào trong cuộc sống hằng ngày một cách uyển chuyển, thích hợp, và khéo léo.
          Trên đây, người viết nói về việc thừa tự pháp và thừa tự tài vật. Tiếp theo, ông ta nói về mặt tri ân và nhớ ân giữa thầy và trò, trò và thầy trong buổi Lễ Tạ Ơn hay Lễ Thù Ân của Phật giáo.
          Chúng ta biết cứ mỗi nữa tháng vào buổi sáng sớm, nhà Chùa thường làm lễ Tạ ơn. Trong buổi lễ này, nhà Chùa có đảnh lễ các ơn như ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ; ơn dạy dỗ, trao truyền và hướng dẫn của thầy lành bạn tốt; ơn hỗ trợ và cúng dường của các người đàn việt; ơn dựng nước và giữ nước của những anh hùng dân tộc tại các quốc gia, nơi mình sinh ra, lớn lên, làm việc, và đang sống; ơn che chở và bảo hộ của môi trường thiên nhiên; ơn hoằng dương chánh pháp và phục vụ nhân sinh từ xưa cho tới ngày nay của các vị Tổ Sư; ơn tiếp nối và kế thừa của những người đệ tử, vân vân và vân vân.
          Trong các ơn đó, trong bài viết này, người viết chỉ đề cập tới các mối liên hệ tốt đẹp và mật thiết giữa thầy và trò, trò và thầy mà thôi.
          Trong buổi Lễ Thù Ân, ngoài việc xướng và đảnh lễ các ơn trên ra, người hành giả còn đảnh lễ ơn thầy và ơn trò tiếp theo. Để tỏ lòng tôn kính và quý trọng người thầy, người trò đảnh lễ người thầy như thế này: “Đệ tử chúng con nhớ ơn sự che chở, bảo hộ, và dạy dỗ của Thầy Tổ, cúi đầu đảnh lễ Phật, Pháp và Tăng thường trú trong nhiều phương.
          Trong quá trình tu và học, người học trò học rất nhiều lời hay ý đẹp, đặc biệt là kinh nghiệm sống và kinh nghiệm tu tập từ người thầy bổn Sư. Ngoài vị thầy bổn Sư của mình ra, người học trò còn học nhiều điều đạo đức, giáo dục, khoa học, y học, triết học… từ những thầy đạo cũng như thầy đời, những người học trò đều phải ghi ơn và nhớ ơn họ sâu sắc.
          Theo văn hóa Á châu, đặc biệt là văn hóa của người Việt Nam, những ai mà dạy cho ta một kinh nghiệm ý nghĩa, một lời nói hay, một ý nghĩa hay, một việc làm hữu ích và thiết thực, thì họ là thầy ta cả. Thật vậy, trong giáo dục Phật giáo, người thầy đóng vai trò quan trọng của người chỉ đường, chỉ cho các đệ tử thấy rõ con đường an vui và hạnh phúc. Con đường an lạc này được ví như con đường xa lộ có tám làn xe chạy (lane). Mỗi làn xe chạy tượng trưng cho một điều chân chánh, tám làn xe chạy tượng trưng cho tám điều chân chánh gồm có: “Cái nhìn chân chánh, ý nghĩ chân chánh, lời nói chân chánh, hành động chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, tinh tấn chân chánh, nhớ nghĩ chân chánh, định tĩnh chân chánh.
          Tám làn xe được thâu nhiếp trong một con đường, tám điều chân chánh được thâu nhiếp trong an vui và giải thoát; an vui trong tu tập, giải thoát trong hành trì, và ứng dụng giáo pháp của đức Thế Tôn vào trong cuộc sống hằng ngày của mình. Một là tám, tám là một, và là tất cả. Cả tám và một, một và tám đều bổ sung với nhau như hình với bóng. Cả thầy và trò, trò và thầy, đều nương tựa và hỗ trợ với nhau vào trong đời sống tu tập hằng ngày để cùng nhau hướng tới giác ngộ và giải thoát tâm linh như sóng với nước không thể tách rời nhau được. Hiểu và thực hành được như vậy, thì trò cảm thấy hạnh phúc và thầy cảm thấy an vui. Cả thầy và trò đều có khả năng đem lại hoa trái an lạc và hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại. 
Tiếp đến, để tỏ lòng vui mừng khi thấy các người học trò của mình giỏi hơn mình, người thầy khởi tâm niệm động viên và nói như thế này: Con giỏi hơn cha mẹ là nhà có phúc, trò giỏi hơn thầy là trường có phúc, đệ tử giỏi hơn thầy là Chùa có phúc. Dĩ nhiên, nơi nào gia đình và nhà Chùa có phúc, thì nơi đó cha mẹ và thầy tổ giỏi hơn con cái và đệ tử của họ, nhưng chúng ta biết trong giáo dục đạo học cũng như thế học, người ta luôn mong muốn thế hệ đi sau giỏi hơn thế hệ đi trước về khía cạnh tài năng, trí tuệ, đức hạnh… Thực vậy, trong ngữ cảnh giáo dục Phật giáo, nhà trường được xem là Tu viện, nhà Chùa được xem là Tùng Lâm, học trò được xem là đệ tử, những người này có khả năng đem đạo pháp và dân tộc đi về tương lai một cách tươi sáng và vững chãi trên thế gian này.
          Khi đào tạo các thế hệ tuổi trẻ, với tâm niệm phóng khoáng, rộng mở, và phát triển, các người cha, người mẹ, và người thầy luôn mong muốn các người con, người học trò, và người đệ tử của mình giỏi hơn mình. Với cái nhìn trong sáng về tương lai, các thế hệ đi sau mà giỏi hơn các thế hệ đi trước, đặc biệt là tài năng, trí tuệ và đức hạnh, thì họ có khả năng xây dựng và phát triển đạo pháp và dân tộc, quốc gia và thế giới bằng con đường đức trị, cụ thể là pháp học, pháp hành, pháp hiểu và pháp lạc. Hiểu và thực hành được như vậy, mọi người đều nếm được an vui và hạnh phúc trong giáo pháp của đức Thế Tôn.  
          Trong đời sống hằng ngày, ứng dụng và thực hành lời Phật dạy một cách đều đặn, vững chãi, và thảnh thơi, hướng về đức Phật tự tâm, người thầy khởi tâm xướng và đảnh lễ như sau: “Đệ tử chúng con nhớ ơn các vị đệ tử, những người có công tiếp nối ánh sáng của chánh pháp, cúi đầu đảnh lễ Phật, Pháp, Tăng thường trú trong nhiều phương.
          Thật vậy, khi chọn cho mình hướng đi trong sáng, an lạc, và tự do, thì cả thầy và trò nguyện cùng nhau thắp sáng lên ngọn đuốc của chánh pháp, thắp sáng lên ngọn đuốc của tình thương cho các thế hệ hiện tại cũng như các thế hệ tương lai. Các vị là những người hành giả đích thực có khả năng đem lại hòa bình, an lạc, và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân trên khắp hành tinh này.
          Hơn nữa, là người hành giả tu tập đạo tỉnh thức, trên bước đường tu tập hướng thượng và hướng thiện, hướng tới an vui và giải thoát, hướng tới an lạc và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân, cả thầy và trò luôn luôn hiểu và nhận diện những ý nghĩ, lời nói, và việc làm chánh niệm của mình trong từng hơi thở và cử chỉ tỉnh giác của mình.
          Mỗi năm, trong ba tháng An Cư Kiết Hạ của Tăng đoàn, có một ngày kết thúc khóa tu ba tháng, ngày kết thúc đó được gọi là ngày hoan hỷ, tức là ngày Tết của chư vị xuất Sĩ, chư vị tham gia với nhau để làm lễ nhận diện những điều chánh niệm của mình. Trong những vị ấy, đặc biệt là thầy và trò, trò và thầy cùng nhau hiện diện nơi Đạo Tràng trang nghiêm và thanh tịnh mặt đối mặt với nhau bày tỏ tấm lòng quý kính của mình và nói rằng:
          Trong những ngày tu tập với Đại Chúng, nếu mình tạo ra những điều gì chánh niệm hoặc thiếu chánh niệm, xin các bạn đồng tu hoan hỷ chỉ cho mình những điều tốt để mình biết cách phát huy và tăng trưởng; những điều không tốt để mình biết sửa đổi và chuyển hóa chúng. Nơi đạo tràng này, mình xin chân thành biết ơn ghi nhận những điều chỉ giáo của các bạn đồng hành. Xét thấy nếu mình có những điểm yếu kém do thiếu chánh niệm gây ra, mình hứa với lòng mình nguyện không lập lại lỗi lầm xưa, hoặc nếu mình thực hiện những điều tốt và lợi ích do chánh niệm hình thành, thì mình dặn với lòng mình cố gắng duy trì và phát huy những điều lợi ích đó để đem lại an và hạnh phúc cho số đông.
          Hiểu và thực hành được như vậy, thì cả thầy và trò, trò và thầy có thể cùng nhau góp phần đem đạo vào đời và giúp đời thêm vui bớt khổ. Trong cuộc sống hằng ngày, khi những người cư sĩ và người xuất sĩ hiểu và áp dụng những lời dạy của đức Thế Tôn một cách uyển chuyển, chánh niệm và tỉnh giác, vững chãi và thảnh thơi, thì chư vị có khả năng đem lại an lạc và hạnh phúc cho mình, cho người thân người thương của mình trong tự viện, trong gia đình, và trong xã hội.
          Tóm lại, qua những gì đề cập ở trên, các mối liên hệ giữa thầy và trò, trò và thầy là những mối liên hệ đặc thù trong giáo dục Phật giáo được nối kết với nhau bằng ý nghĩ, lời nói, và việc làm thương yêu và hiểu biết, bằng tình thầy trò, tình huynh đệ, tình pháp lữ, tình đồng tu, tình hộ pháp và hoằng pháp qua việc thực hành và ứng dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày của mình để đem lại an lạc và hạnh phúc cho nhiều người.
          Cả thầy và trò hiểu và thực hành Phật pháp được như vậy, thì an lạc và hạnh phúc có khả năng thấm nhuần và làm mát dịu thân tâm. Từ đây, an lạc của thầy chính là an lạc của trò, hạnh phúc của trò chính là hạnh phúc của thầy. Khi có được an lạc và hạnh phúc, thì cả thầy và trò có khả năng đem lại an lạc và hạnh phúc cho gia đình, cho tu viện, cho học đường và cho xã hội. Và ngược lại, không thực hành được như vậy, thì cả thầy và trò đều không gặt hái được những hạt giống an vui và hạnh phúc.
          Giáo dục Phật giáo có khả năng giúp thầy và trò, trò và thầy sống đời sống chánh niệm và tĩnh giác, vững chãi và thảnh thơi để nhận diện, tu tập, và chuyển hóa những hạt giống không an vui và không hạnh phúc thành những hoa trái an vui và hạnh phúc đích thực ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại nếu cả thầy và trò biết cách ứng dụng và thực hành giáo pháp của đức Thế Tôn một cách tinh chuyên vào trong cuộc sống hằng ngày của mình.
          Thực vậy, các mối liên hệ mật thiết này có giá trị rất thiết thực ở hiện tại được thắt chặt với nhau bằng chất liệu tu tập, bằng tình tương trợ, tương thân, tương ái, tương kính, hòa hợp và đoàn kết, bằng sự trao truyền và tiếp nối, bằng sự hướng dẫn và kế thừa giáo pháp của đức Thế Tôn một cách chánh niệm và tĩnh giác. Cả thầy và trò, trò và thầy là những hành giả an lạc và giải thoát có khả năng bảo hộ, duy trì, và phát triển đạo Phật ở hiện tại cũng như ở tương lai, và có khả năng đưa đạo Phật đi về tương lai một cách xán lạn và huy hoàng trên khắp thế gian này.

Kính chúc Quý liệt vị an trú và thấm nhuần giáo pháp của đức Thế Tôn!
Thầy Thích Trừng Sỹ

Dec 24, 2015

Làm Thế Nào Để Trở Thành Những Thành Viên Tốt Trong Gia Đình

          Kính chào các vị Giáo sư, Giảng viên và sinh viên,
          Các bạn thân mến!
          Hôm nay là thứ Tư, ngày 25 tháng 5, năm 2011. Tôi pháp danh là Thích Trừng Sỹ và Pháp huynh của tôi là Thượng tọa Thích Nguyên Kim. Chúng tôi đến từ Chùa Cổ Lâm. Nhận lời mời từ Đại học Seattle, và được sự chỉ đạo và cho phép của Hòa thượng Thích nguyên An, Viện chủ Chùa Cổ Lâm, chúng tôi rất hoan hỷ đến đây để thuyết trình và tham dự buổi hội thảo tôn giáo tại Đại học này do các vị Giáo sư tổ chức. Những người nói chuyện chính tối hôm nay là Thượng tọa Nguyên Kim, Linh Mục Thành, Hướng đạo viên Sơn, và thầy Trừng Sỹ.
Đề tài của tôi thuyết trình ở đây là “làm thế nào trở thành những thành viên tốt trong gia đình.(1)
          Như quý vị biết gia đình là một tế bào của xã hội, là đơn vị giáo dục đầu tiên của xã hội, là nền tảng căn bản và vững chãi giáo dục về thương yêu. Trong gia đình, cha mẹ đóng vai trò giáo sư rất quan trọng trong việc dạy con cái về thương yêu, an lạc và hạnh phúc. Con cái là những sinh viên học về thương yêu, an vui và hạnh phúc.
          Thương cha, thương mẹ, hay thương con cái của mình, trước hết, chúng ta phải có mặt đích thực ngay bây giờ và ở đâycho người thương của chúng ta. Có mặt ngay bây giờ và ở đây để chúng ta có thể lắng nghe những gì người thương của chúng ta nói. Khi người ấy nói điều gì tốt, chúng ta học để duy trì và phát triển. Khi người ấy nói điều gì không tốt, chúng ta cũng học, nhận diện, và loại bỏ dần. Những điều chúng ta muốn nhấn mạnh ở đây là ái ngữlắng nghe. Nếu cha mẹ nói thương con, nhưng họ không có ở nhà, họ không có mặt bây giờ và ở đây, họ luôn bận rộn công việc làm ăn, họ không có thời gian rảnh để chơi với con, để ăn, uống, ngủ, nghỉ với con, và chăm sóc con cái họ. 
          Do đó, theo tác giả, trong mỗi ngày một đêm 24 giờ đồng hồ, chúng ta nên dành thời gian ít nhất 2 giờ, một giờ cho buổi sáng và một giờ cho buổi tối để chăm lo việc học hành, ăn, uống, ngủ, nghỉ và đời sống con cái. Chúng ta hướng dẫn con cái và thực tập được như vậy, thì con cái của chúng ta dễ dàng trở thành những thành viên tốt trong gia đình, sinh viên tốt ở nhà trường, và công nhân hay viên chức ở xã hội.
          Tuy nhiên, muốn dạy dỗ con cái cho tốt, thì chúng ta phải là người vợ hoặc người chồng gương mẫu sống đời sống chánh niệm và tỉnh giác bằng cách áp dụng và thực tập ái ngữlắng nghe trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Khi người vợ nói điều gì giận, người chồng phải thực tập hạnh lắng nghe với tâm không thành kiến, không phản ứng, và không phán xét. Đợi người vợ nói xong, thì lúc đó, người chồng mới bắt đầu nói một cách khéo léo và uyển chuyển. Ngược lại, khi người chồng giận, người vợ cũng thực tập lắng nghe sâu những gì người chồng nói. Đợi người chồng nói xong, thì người vợ mới bắt đầu tâm sự và chia sẻ những điều đúng, sai, hạnh phúc hay không hạnh phúc.
          Song, qua quá trình thực tập ái ngữlắng nghe, đôi lúc người vợ nói lớn tiếng bằng cách trả lời với người chồng bằng những lời bực mình trong khi người chồng đang nói. Ngược lại, trong khi người vợ đang nói, người chồng cũng trả lời lại với người vợ bằng những lời khó chịu, song cả hai người đều nhận biết rằng việc trả lời cọc cằn của họ đều không dễ thương và không đem lại kết quả tốt đẹp và lợi ích cho cả hai. Ở điểm này, người có tu tập khác hơn người chưa có tu tập. Ban đầu người chồng giận và nói điều gì đó bất hòa, người vợ cố gắng lắng nghe và hiểu những gì người chồng nói khoảng 20 phần trăm, dần dần lên tới 40, 60, 80, và 100%.
          Tu tập là quá trình chuyển hóa; chuyển hóa không lắng nghe thành lắng nghe, chuyển hóa cái giận thành cái vui, chuyển hóa cái bực bội và khổ đau thành an vui và hạnh phúc; hạnh phúc cho mình và cho người thân người thương trong gia đình của mình. Chúng ta biết rằng ái ngữ lắng nghe là hạnh thực tập của đức Mẹ hiền Quán Thế Âm (Avalokiteśvara).(2) Người nào thực tập được hạnh ái ngữlắng nghe thì người đó có thể gặt hái được hoa trái an vui và hạnh phúc đích thực cho tự thân và cho tha nhân ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.         
          Một điều nữa là, khi nói một điều gì, nếu người vợ hoặc người chồng phải nói đúng lúc, đúng nơi, và đúng đối tượng, thì lời nói của người vợ hoặc của chồng trở nên có ý nghĩa và giá trị. Ngược lại, nếu người vợ hoặc người chồng không nói đúng lúc, đúng chỗ, và đúng đối tượng, thì lời nói đó không có ý nghĩa và và không có giá trị.  
          Trong gia đình, người vợ và người chồng thực tập được như vậy, thì họ hạnh phúc, gia đình họ hạnh phúc và con cái của họ cũng được hạnh phúc. Chúng ta nên nhớ rằng hạnh phúc của người vợ chính là hạnh phúc của người chồng, và ngược lại, bất hạnh của người chồng trở thành bất hạnh của người vợ và bất hạnh của con cái. Nếu chúng ta hiểu và thực tập được như vậy, thì gia đình ta hạnh phúc, chúng ta và con cái của chúng ta cảm thấy an vui.
          Kính chúc quý vị thân tâm thường an lạc!
          Cảm ơn quý vị đã lắng nghe và theo dõi!

 

http://www.daophatngaynay.com/vn/files.php?file=images/2011/quy2/IMG_0272_886406389.jpg

 

 

   Đề tài này được thuyết trình tại cuộc họp của các thầy giáo thọ trong vùng thường niên tại Tu Viện Sakya ở thành phố Seattle   
do Pháp Hội Tây Bắc tổ chức vào ngày thứ Bảy, tháng 10, năm 2011.
Xem http://www.northwestdharma.org/news/Fall11/teachers-meeting.php/   http://giaoducphatgiaophapnhan.blogspot.com/

   Xem Pāli-English Dictionary. Eds. T. W. Rhys Davids & W. Stede, London: Pāli Text Society, 1921-25. (First Indian reprint, 
New Delhi: Oriental Books Reprint Corporation, 1975): 11 & 708.

   Rousseau J J A. Discourse on the Origin of Inequality. London: 1970: 169.

   Swami Sivananda. Religious Education. 1983, Ch. I, Bliss Divine, 1991: 126.

    Dhp. V. 183.

   Thích Nhất Hạnh. The Heart of The Buddha’s Teaching. New York: Parallax Press, 1999: 246-7.

   Xem Pháp Cú, kệ số 88, 97, 378...

  Xem Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta) thuộc Tương Ương Bộ (Samyutta Nikaya, 56: 11).

 

 

 

 

 

(1) Đề tài này trình bày sẽ mất khoảng 15 phút. Xem tin tức của đại học Seattle qua website http://www.seattleu.edu/commons/post.aspx?id=73883
(2) This Bodhisattva has the capacity to listen to human beings’ cries to save them.

__________________________________________________________________________

@ Phap Nhan Temple - Del Valle, TX

W3Counter