Ngày 10 tháng 1 năm 2016

Những Tính Đặc Thù của Biển trong Phật Pháp


        Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, một bậc Thầy tỉnh thức và giác ngộ viên mãn, giảng dạy giáo pháp thù thắng nhằm mục đích đem lại an lạc và hạnh phúc đích thực cho chư thiên và nhân loại. Những lời dạy ấy mang đậm tính nhân văn, rất thiết thực hiện tại, có giá trị vượt thoát thời gian, và phù hợp với mọi căn cơ và trình độ tu tập và tu chứng của mỗi chúng sinh trên hành tinh này.
        Như quý vị biết trong lúc giảng dạy, một bậc thầy giỏi thường nêu ra những ví dụ minh họa để cho người nghe và người học dễ hiểu và dễ ứng dụng những lời dạy của mình vào trong cuộc sống hằng ngày. Cũng vậy, trong các thời thuyết pháp của Phật, để cho hội chúng dễ dàng tiếp thu được Phật pháp, Ngài đưa ra nhiều ví dụ và ẩn dụ cụ thể và khác nhau, hàm chứa những tính đặc thù, thường được tìm thấy trong Tam Tạng thánh điển Phật giáo (Kinh, Luật và Luận), đặc biệt là các Kinh A Hàm.
        Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm (Ekottarikàgama Sutra), có nhiều đặc tính được tìm thấy, nhưng trong bài viết này “Có tám tính đặc thù của biển(1) được tìm thấy  trong cuộc đối thoại xảy ra giữa đức Phật và một vị Bà-la-môn (Brahman). Tám tính đặc thù này được trình bày theo dạng ẩn dụ, so sánh và đối chiếu, có liên quan tới Phật pháp rất mật thiết. Sau đây, người viết lần lượt tìm hiểu ý nghĩa và nội dung của từng đặc tính trên. Kính mời quý vị cùng nhau theo dõi.
1.      Bãi biển không hề có vực thẳm.
2.      Biển rộng bao la.
3.      Biển không bao giờ dung chứa một tử thi.
4.      Biển đón nhận tất cả các dòng nước.
5.      Biển không đầy không vơi.
6.      Nước biển thuần một vị mặn.
7.      Biển nuôi dưỡng các loài thủy tộc.
8.      Biển chứa đựng nhiều loại của quý.

        1.      Bãi biển không hề có vực thẳm.
        Khi tắm biển, chúng ta lội nước từ cạn tới sâu dần. Cũng vậy, khi có duyên tiếp xúc với Phật pháp, chúng ta bắt đầu tu học đi từ thấp lên cao, đạt được giác ngộ và giải thoát từng phần, từng cấp độ khác nhau, chuyển hóa dần dần từ phàm phu tới thánh quả, từ khổ đau tới an vui, hạnh phúc.
        Hơn nữa, giáo pháp được đức Phật và các vị thánh đệ tử khéo thuyết giảng và trình bày từ phương pháp căn bản tới phương pháp phát triển. Nó có giá trị thiết thực hiện tại, phù hợp với sự tu, học, và chứng ngộ của từng mỗi chúng sanh. Những ai có đủ duyên lành tiếp xúc, học hỏi, và hành trì Phật pháp, thì họ không bao giờ bị hụt hẫng và chết chìm trong giáo pháp. Trái lại, các vị có thể thưởng thức được những hoa trái an lạc và hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại.

        2.      Biển rộng bao la.
        Chúng ta biết sông thì nhỏ, hẹp, có ngằn mé và giới hạn. Ngược lại, biển thì rộng lớn, bao la, không ngằn mé và không giới hạn. Ở điểm này, trong Tăng Thân Làng Mai, có bài hát nổi tiếng với chủ đề

Sông và Biển.” (2)
Em chưa từng thấy biển,
em chỉ thấy dòng sông.
Nhưng có nghe cô kể,
biển thì rộng hơn sông;
biển thì rộng mênh mông,
bao la biển xanh mặn nồng,
một đời người như sông.
Nếu ai sống cho muôn người,
thì lòng rộng hơn sông.
Nếu ai sống cho riêng mình,
thì lòng hẹp hơn sông.

        Biển là chỉ cho cái tâm tự do, thênh thang, và tha nhân; sông chỉ cho cái tâm ràng buộc, chật hẹp, và vị kỷ. Tu là để nhận diện và chuyển hóa cái tâm ràng buộc, chật hẹp và vị kỷ thành cái tâm tha nhân, tự do, thênh thanh, bao la như biển.
        Bài hát trên nhằm nhắc nhở mỗi chúng ta cố gắng sống chánh niệm và tỉnh giác, vững chãi và thảnh thơi bằng cách áp dụng Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày để đem lại an lạc và hạnh phúc cho số đông ngay bây giờ và ở đây trong cuộc đời này.
        Biển rộng bao la có nghĩa là trong giáo pháp của Phật có chứa đựng các chất liệu tha thứ, bao dung, độ lượng, ôm ấp, chuyển hóa, nuôi dưỡng, trị liệu, vững chãi, thảnh thơi, an lạc, và hạnh phúc. Những ai có đủ duyên lành sống áp dụng và hành trì giáo pháp của đức Thế Tôn, thì họ có khả năng nếm được hương vị an lạc và giải thoát, và đạt được sự bình đẳng như nhau.

        3.      Biển không bao giờ dung chứa một tử thi.
        Biển đề cập ở đây được hiểu là giáo pháp của đức Thế Tôn; tử thi được hiểu là sự bất hạnh, khổ đau, các phiền não tham, sân, si, tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, và tà định. Biển chỉ cho Phật tánh, tâm Bồ đề, tức tâm tuệ giác; tử thi chỉ cho ma tánh, tâm phiền não, tức tâm khổ đau.
        Giáo pháp của đức Thế Tôn là giáo pháp giác ngộ và tỉnh thức, không bao giờ dung chứa những hạt giống phiền não, tiêu cực, bất hạnh và khổ đau, và ngược lại, tất cả những lời dạy của Ngài đều chứa đựng những chất liệu vững chãi và thảnh thơi, an vui và hạnh phúc, giác ngộ và giải thoát.
        Chúng ta biết người tu tập không giỏi thường có cái tâm chê bai, chỉ trích người khác, đánh mất cái tâm Bồ đề, cái tâm tự do, cái tâm thong dong, và tự tại. Đời sống của họ thường bị các phiền não và khổ đau chế ngự và chi phối. Thân tâm của họ không được an lạc, nhẹ nhàng và thư thái.
        Người tu giỏi biết áp dụng và hành trì Phật pháp vào đời sống hằng ngày, sống chánh niệm và tỉnh giác, vững chãi và thảnh thơi, có khả năng đoạn trừ, chế ngự, và chuyển hóa hạt giống tiêu cực thành hạt giống tích cực, hạt giống bất thiện thành hạt giống thiện, hạt giống phiền não thành hạt giống Bồ đề, hạt giống khổ đau thành hạt giống hạnh phúc…Người này có cái tâm hoan hỉ, thương yêu, tha thứ, thông cảm, giúp đỡ và chia sẻ sự khó khăn và nỗi khổ niềm đau của mình và của người khác.
        Thực vậy, chúng ta có thể nhận diện rằng khổ đau của mình chính là khổ đau của người, và ngược lại, hạnh phúc của mình chính là hạnh phúc của người, và an lạc của mình chính là an lạc của người. Hiểu và thực hành được như vậy, thì chúng ta có khả năng đem lại những hoa trái an vui và hạnh phúc đích thực cho tự thân và cho tha nhân ngay cuộc đời này.
Hơn nữa, như quý vị biết khi tử thi trôi giạt trên biển, nó sẽ bị nước biển nhận chìm, hoặc bị đánh dạt vào bờ. Điểm này ý nói rằng nếu sống thiếu chánh niệm tỉnh giác, chúng ta sống không khác gì như một tử thi. Chúng ta có thể làm những điều bất thiện như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, sử dụng các chất say…Chắc chắn chúng ta sẽ bị đánh dạt vào bờ sinh tử, và sẽ bị các phiền não và khổ đau chế ngự.
        Ý thức rõ điều ấy, Chúng ta nỗ lực sống đời sống chánh niệm và tỉnh giác, không làm các điều ác, làm các điều lành, giữ thân tâm an lạc bằng cách áp dụng và hành trì lời Phật dạy vào trong đời sống hằng ngày của mình để đem lại hoa trái an vui và hạnh phúc cho số đông. Chúng ta tập sống với cái hạnh, cái nguyện và cái tâm thương yêu, bố thí, phóng sanh, chung thủy, chân thật, chánh niệm, tỉnh giác…Hiểu và làm được như vậy, chúng ta không những giúp cho mình, người thân người thương của mình có khả năng thoát ra khỏi bể sanh tử, chế ngự phiền não, chuyển hóa khổ đau, mà còn giúp cho tự thân và cho tha nhân lội vào bờ bình an và hạnh phúc đích thực ngay tại thế gian này.

        4.      Biển đón nhận tất cả các dòng nước.
        Chúng ta biết biển có khả năng đón nhận và dung chứa tất cả các dòng nước sạch, nước dơ, nước bùn, nước mưa…chảy từ trăm ngàn con sông, suối, ao, hồ, vân vân. Cũng vậy, xưa cũng như nay, giáo pháp của đức Thế Tôn có khả năng không những ôm ấp, nhiếp phục và thâu nhiếp được tất cả các học thuyết và triết thuyết ở đời, kể cả các văn hóa và truyền thống tâm linh khác, mà còn độ được những vua, quan, quần thần, tôi tớ, người giàu, người nghèo, tù, tội, người da trắng, da đen, da vàng, da đỏ, kể cả kỉ nữ và bọn cướp…Hễ những ai có đủ duyên lành tiếp xúc và hành trì lời Phật dạy vào trong đời sống hằng ngày, thì an lạc và hạnh phúc có thể thấm nhuần và làm mát dịu thân và tâm.

        5.      Biển không đầy không vơi.
        Các bạn biết tất cả các dòng nước của các con sông, ngòi, ao, hồ…đều chảy ra biển cả, nhưng đặc tính của nó là không đầy không vơi, không ít không nhiều, không cao không thấp. Cũng vậy, trong đạo Phật, có rất nhiều hạng người khác nhau đến từ các nhà khoa học, nhà chính trị, nhà tâm linh, nhà tôn giáo, nhà đạo đức, nhà giáo dục, vân vân., có duyên tu tập, áp dụng và thực hành Phật pháp trong khoảng thời gian một tuần, hai tuần, ba tuần, một tháng, hai tháng, ba tháng, một năm, hai năm, ba năm… Song tất cả mọi người đều cảm nhận, thưởng thức và nếm được hương vị pháp lạc bình đẳng như nhau. Từ đây, Phật tánh, Phật tâm, Phật hạnh và Phật nguyện của họ trở nên bừng sáng.
        Biển được đề cập ở đây có nghĩa là “Phật tánh” có sẵn trong mỗi chúng ta. Phật, trước hết, có nghĩa là Người tỉnh thức và sự tỉnh thức, Người an lạc và sự an lạc, Người vững chãi và sự vững chãi, Người thảnh thơi và sự thảnh thơi, vân vân; Tánh có nghĩa là “Tâm.” Khi ta cảm nhận và nếm được pháp lạc nhờ sự hành trì và ứng dụng Phập pháp vào trong đời sống hằng ngày, tâm chúng ta trở nên bừng sáng, và thân ta trở nên an lạc. Chúng ta có khả năng chế ngự phiền não, chuyển hóa khổ đau, và đạt được sự tỉnh thức, an lạc, vững chãi và thảnh thơi ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại. “Phật tánh” trong ta hiển bày.
        Biển không đầy không vơi” cũng có nghĩa là ở thánh “Phật tánh” không thêm, ở phàm “Phật tánh” không bớt. Điểm này có ý nghĩa khác nhau là vì tâm giác ngộ của ta bị vô minh và phiền não ngăn che, nên chúng ta không thấy được “Phật tánh.” Cũng vậy, “Phật tánh” được ví như ánh sáng “Trăng Rằm.” Ánh sáng không thấy được là vì bị mây ngăn che. Muốn thấy được ánh sáng là nhờ gió. Gió thổi thì mây bay, ánh sáng “trăng Rằm” tự nhiên hiển lộ. “Gió” ở đây chỉ cho sự tu học và hành trì phật pháp. “Mây” chỉ cho vô minh và phiền não.   
Nhờ tu học Phật pháp tinh chuyên, sống đời sống chánh niệm và tỉnh giác, chúng ta có khả năng phá tan màn vô minh và dập tắt phiền não. Lúc bấy giờ, vô minh diệt thì minh sanh.
        Chúng ta thấy được “Phật tánh,” ánh sáng tuệ giác trong ta hiển bày. Hạt giống giác ngộ trong ta được đánh thức và nẩy mần. “Phật tánh,” ánh sáng tuệ giác và hạt giống giác ngộ trong ta không những có khả năng hiến tặng hoa trái thương yêu và hiểu biết tới số đông, mà còn hiến tặng “cái thấy hòa bình, cái ý nghĩ hòa bình, lời nói hòa bình, việc làm hòa bình, phương kế sinh nhai hòa bình, tinh tấn hòa bình, nhớ nghĩ hòa bình, và sự tập trung duy trì hòa bình cả thân lẫn tâm(3) cho tất cả chúng sanh muôn loài.  Hiểu và thực hành được như vậy, thì chúng ta thực sự là sứ giả hòa bình để góp phần xây dựng người người hạnh phúc, nhà nhà yên vui, xã hội an bình, và chúng sanh an lạc trên khắp hành tinh này.

        6.      Nước biển thuần một vị mặn.
        Dù nước mưa, nước sông, nước suối, nước ngọt, nước đục, nước dơ…chảy về biển cả, nhưng tất cả các loại nước ấy đều trở thành nước biển và có một vị mặn duy nhứt. Cũng vậy, trong tất cả các lời dạy của đức Phật và đệ tử của Ngài, hoặc trong tất cả các pháp môn tu học của đạo Phật, dù bạn tu theo truyền thống Nam truyền hay Bắc truyền, dù bạn tu theo pháp môn Thiền hay Tịnh độ, nhưng giác ngộ và giải thoát vẫn là yếu tố then chốt, an lạc và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân vẫn là yếu tố hàng đầu.

        7.      Biển nuôi dưỡng các loài thủy tộc.
        Trong không gian mênh mông bao la, biển chứa đựng và nuôi dưỡng vô số các loài thủy tộc như tôm cua, cá…Cũng vậy, trong chiều dài lịch sử gần ba nghìn năm, đạo Phật và giáo pháp của đạo Phật có khả năng dung nhiếp và giáo hóa không biết bao nhiêu hạng người trên thế gian này như người trí, kẻ ngu, người giàu, kẻ nghèo, nhà bác học, người ít học, v.v… Hễ những ai có duyên tu, học Phật pháp tinh chuyên, sống đời sống chánh niệm và tỉnh thức, vững chãi và thảnh thơi, thì họ có thể gặt hái được hoa trái an lạc và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân ngay cuộc đời này.

        8.      Biển chứa đựng nhiều loại của quý.
        Trong đại dương, có vô số các loại ngọc ngà, châu báu như vàng, kim cương, pha lê, hỗ phách, v. v… Cũng vậy, trong đạo Phật, có vô số các loài chúng sinh được sinh ra từ trứng, từ thai, từ ẩm ướt, và từ biến hóa (4). Trong các loài chúng sinh đó, có vị là bậc tỉnh thức, có vị là bậc giác ngộ, có vị là bậc thánh, có vị là phàm phu, v. v… Dù chúng ta là những vị phàm phu, nhưng chúng ta có duyên học Phật, nghe pháp, hiểu pháp và nếm được hương vị pháp lạc, thì Phật tánh và ánh sáng tuệ giác trong ta trở nên bừng sáng, tâm Bồ đề trong ta trở nên giác ngộ và tỉnh thức. Từ đây, mỗi chúng ta là những bông hoa tươi đẹp để hiến tặng cho đời và giúp đời thêm hương thêm sắc. Những ai hiểu và làm được như vậy, thì họ xứng đáng được thế gian trân quý như vàng, như kim cương, pha lê, hỗ phách… tại thế gian này.
        Tóm lại, qua những gì đề cập ở trên, chúng ta thấy những tính đặc thù của biển là tiêu biểu cho những tính đặc thù của đạo Phật, giáo pháp của đạo Phật, người hoằng pháp và người thực hành và thưởng thức được hương vị an lạc của chánh pháp.
        Những tính đặc thù này chỉ được tìm thấy trong Đạo tỉnh thức, ngoài Đạo tỉnh thức ra, chúng không dễ gì được tìm thấy ở các tôn giáo và các triết thuyết khác. Mặc dù những tính đặc thù này có mặt trên thế gian này gần ba nghìn năm, nhưng giá trị của chúng rất thiết thực hiện tại, vượt thoát thời gian, phù hợp với khoa học và con người xã hội ngày nay, có khả năng dập tắt phiền não, và đưa hành giả tới thân tâm an lạc. Hiểu, áp dụng và thực hành những tính đặc thù của Phật pháp vào trong đời sống hằng ngày một cách chuyên cần và chánh niệm, thì chúng ta có thể đem lại an lạc và hạnh phúc cho số đông, và đồng thời, chúng ta cũng có thể góp phần xây dựng cõi thiên đường và cực lạc ngay tại thế gian này.

        Kính chúc Quý liệt vị cùng nhau thực tập và thưởng thức được hương vị an lạc của chánh pháp!
Thích Trừng sỹ

________________*******________________

 Xuân Miên viễn

Xuân đến xuân đi ngỡ xuân hết,
Hoa tàn hoa nở chỉ là xuân.” (5)

        Thông thường, người đời thường nghĩ xuân đến là xuân đã qua, xuân đi là xuân đã hết, nhưng đối với các bậc thức giả, đặc biệt là Thiền sư Chân Không, không nghĩ như vậy. Các ngài nghĩ dù xuân có đến có đi, dù xuân có về có tới, nhưng xuân vẫn là xuân miên viễn, có mặt đích thực trong bạn và trong tôi, đó là, xuân tình và xuân tâm.      
        Mỗi chúng ta đều có mùa xuân miên viễn nếu chúng ta biết cách vun xới và tưới tẩm nó với những người thương của mình bằng hơi thở có ý thức, ý nghĩ thiện, lời nói thiện, và việc làm thiện của mình. Những người thương của mình có thể là thầy của mình, là đệ tử của mình, là cha của mình, là mẹ của mình, là con của mình, là bạn của mình, và là người yêu của mình…
        Ở câu thứ hai, chúng ta thấy hoa tàn hoa nở, nhưng xuân vẫn là xuân. Hoa là loài thảo mộc, có tàn có nở, có sanh có diệt, nhưng hoa tình và hoa tâm thì miên viễn không sanh và không diệt. Ý nghĩa của nó vượt thoát thời gian và không gian. Chúng ta là những người con Phật, chúng ta có thể gặt hái được những đoá hoa chân thật và tươi mát ấy ngay trong giờ phút hiện tại nếu chúng ta vững chãi thực tập lời dạy của đức Phật.   

Không làm các điều ác
Hãy làm các việc lành
Giữ tâm ý trong sạch,
Là lời chư Phật dạy.” (6)
Như hoa xuân tươi đẹp
Có sắc lại có hương
Cũng vậy lời khéo nói,
Có làm có kết quả.(7)

        Hoa là chỉ cho thời gian, xuân là chỉ cho không gian. Hoa và xuân, thời gian và không gian, cả hai luôn hoà quyện với nhau như hình với bóng không thể tách rời nhau được. Có hoa là có xuân và có xuân là có hoa. Có thời gian là có không gian và có không gian là có thời gian.
        Hoa là biểu tượng đẹp, là biểu tượng cho sự tươi mát. Mỗi chúng ta là biểu tượng đẹp và biểu tượng tươi mát cho nhiều người. Mỗi khi chúng ta không vui, chúng ta giận, hoa xuân của chúng ta bị héo đi, chúng ta không thể đem lại cái đẹp và cái tươi mát cho mọi người. Mỗi khi chúng ta vui, chúng ta an lạc, hoa xuân của chúng ta đẹp và tươi mát, chúng ta có thể đem lại an lạc và hạnh phúc cho mọi người. Tu là để chúng ta có thể gặt hái những hoa trái an lạc và hạnh phúc cho mọi người.

Xuân về trên khắp quê hương
An khang thịnh vượng tình thương dạt dào.” (8)

        Chúng ta là những người con Bụt, chúng ta là những con người Việt Nam, dù ở phương trời nào, khi xuân trở về, mỗi chúng ta đều nhớ tới quê cha đất tổ, nhớ tới xuân quê hương và xuân dân tộc. Nhờ có xuân quê hương và xuân dân tộc, chúng nhớ tới Tổ tiên tâm linh và Tổ tiên huyết thống của chúng ta.
        Tổ tiên tâm linh của chúng ta là Phật, các vị Bồ tát, và các hiền thánh Tăng... Tổ tiên huyết thống của chúng ta là Ông bà nội, Ông bà ngoại, và cha mẹ…Xuân về có nghĩa là nhắc chúng ta nhớ tới Ông bà Tổ tiên tâm linh và Tổ tiên huyết thống của chúng ta.
Đức Phật Di Lặc xuất hiện đúng vào ngày Mùng một tết, ngày Xuân mới của năm mới, ngày Tết âm lịch, và Tết dân tộc, đức Phật luôn nở nụ cười hoan hỷ và giải thoát để đem lại an lạc và hạnh phúc cho mọi người và mọi nhà. Mỗi chúng ta là mỗi đức Phật Di Lặc hiện tại và tương lai để chúng ta có thể lập hạnh hoan hỷ và giải thoát của Người để đem lại an vui và hạnh phúc cho số đông.
        Tóm lại, dù hoa có nở có tàn, dù xuân có đến có đi, dù chúng ta có ở xa hoặc ở gần, nhưng tâm của chúng ta luôn luôn lúc nào cũng nhớ tới tình xuân và tâm xuân, nhớ tới xuân quê hương và xuân dân tộc của chúng ta, và nhớ tới Ông bà Tổ tiên tâm linh và Tổ tiên huyết thống của chúng ta như thuở ban đầu.
        Nhân dịp xuân về, chúng con kính chúc chư Tôn đức Tăng Ni và quý Phật tử gần xa hưởng trọn mùa Xuân miên viễn – hoan hỷ và an lạc.

        Kính chúc quý vị thân tâm thường an lạc!
Thích Trừng Sỹ

________________*******________________

(1) Xem Tăng Nhất A Hàm – Tám Pháp → 42. Phẩm Tám Nạn → Kinh Số 4        
Xem http://www.phatviet.com/dichthuat/kinhtang/Tangnhat_A_ham/Tn_00.htm        
Xem Tiểu Bộ → Kinh Phật Tự Thuyết ↔ Cảm Hứng Ngữ (V – Ud 51)
Xem Khuddhaka Nikaya I V Udàna       
Xem http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-kinh-tieubo1/tb13-ptt2.htm

(2) Xem http://langmai.org/sng-chung-an-lc/thien-ca-lc/thien-ca/303-song-va-bin.html
Và http://my.opera.com/lienngoc08/blog/show.dml/4292988

(3) Xem Bát Chánh Đạo - The Noble Eightfold Path (Sanskrit: āryāṣṭāṅgamārga  / Pāli: Ariya-Atthangika-Magga )

(4) Xem http://tudien.daitangkinhvietnam.org/index.php?title=Kim_c%C6%B0%C6%A1ng_b%C3%A1t-nh%C3%A3-ba-la-m%E1%BA%ADt-%C4%91a_kinh

(5) Thơ của Thiền sư Chân Không (1046-1100) ở thời Lý (1010-1225) ở Việt Nam. “Xuân khứ xuân lai nghi xuân tận, hoa lạc hoa khai chỉ thị xuân”

(6) Pháp cú, kệ số 183.

(7) Pháp cú, kệ số 52.

(8) Người viết.

 

@ Phap Nhan Temple - Del Valle, TX

W3Counter